//
bạn đang xem...
Sử dụng thuốc

Cuộc cách mạng ứng dụng công nghệ sinh học trong điều trị viêm khớp dạng thấp

[NAMUD] – Viêm khớp dạng thấp (VKDT) rheumatoid arthritis là hội chứng tự miễn dịch có tính chất mạn, với tỷ lệ 1% số ca mắc bệnh trên toàn thế giới. Bệnh chủ yếu gây ra ở phụ nữ tuổi trung niên, với sự gia tăng các đợt viêm dẫn đến viêm bao hoạt dịch dai dẳng và phá hủy các tổ chức khớp.

Rheumatoid-Arthritis

Bệnh tiến triển có thể gây ảnh hưởng đến các cơ quan khác như da, mắt, hệ hô hấp và hệ mạch. Trong đợt viêm có sự gia tăng đáng kể yếu tố gây hoại tử khối u (Tumour necrosis factor- TNF); cùng với sự gia tăng sản xuất các chất cytokine tiền viêm như Interleukin-6 (IL-6). Quá trình này dẫn đến tình trạng viêm kéo dài và sự thâm nhiễm của các nguyên bào sợi vào tổ chức sụn khớp gây phá hủy các tổ chức này. Có tới 50% nguyên nhân gây ra VKDT là do gene di truyền, còn lại là các nguyên nhân khác, trong đó hút thuốc lá làm tăng gấp đôi nguy cơ phát sinh bệnh. Nếu không được kiểm soát, VKDT sẽ làm phá hủy các khớp dẫn đến tàn tật cho bệnh nhân; ngoài ra còn làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và các bệnh mắc kèm khác.

Sử dụng thuốc chống thấp khớp giúp cải thiện bệnh (DMARD: Disease Modifying Anti-Rheumatic Drugs) là giải pháp chìa khóa trong điều trị VKDT. Thường dùng nhất trong các DMARDs là Methotrexat, phối hợp với Leflunomide và Sulphsalazine trong các phác đồ điều trị, tuy nhiên hiệu quả điều trị của giải pháp này chưa tương xứng với những nguy cơ về độc tính của thuốc mà người bệnh phải gánh chịu. Vì vậy gần đây, giải pháp sử dụng công nghệ sinh học đang là hướng đi mới, với mục tiêu lâu dài là cải thiện tình trạng bệnh, thông qua các đợt điều trị ngắn hạn dựa trên đặc tính sinh học riêng của từng bệnh nhân.

Một giải pháp mang tính cách mạng

Tính hiệu quả của giải pháp sử dụng thuốc sinh học đã được nhận thấy ngay cả khi các sản phẩm chưa được giới thiệu, và đang trở thành hi vọng mới cho bệnh nhân mắc VKDT. Các thuốc kháng TNF được đưa ra thị trường đầu tiên với các hoạt chất như Abatacept, Rituximab và Tocilizumab. Thuốc có thể đặc biệt hiệu quả trên những bệnh nhân điều trị không đầy đủ hoặc không đáp ứng với các DMARDs, thường được phối hợp cùng một DMARD bằng cách tiêm dưới da hoặc tiêm tĩnh mạch. Tuy nhiên do giá thành khá đắt (khoảng 20.000 USD/ bệnh nhân/ năm) nên thường chỉ được chấp nhận khi bệnh nhân viêm nặng, kháng trị.

Hiện nay có 6 loại tác nhân sinh học được dùng trong điều trị VKDT và 4 loại biosimilars (1)

remicade1- REMICADE® (infliximab): sản phẩm nổi tiếng của Merck & Co, là một kháng thể đơn dòng IgG1K có thể nhận biết và gắn không thuận nghịch với TNF-α. Infliximab dạng tiêm tĩnh mạch được giới thiệu đầu tiên vào năm 2000 tại Vương quốc Anh. Trong một nghiên cứu tập trung đa quốc gia, 428 bệnh nhân mắc VKDT không điều trị bằng Methotrexat đã được tiêm tĩnh mạch Infliximab 3 hoặc 10mg/kg; nhóm chứng sử dụng giả dược, khoảng cách điều trị là 4 hoặc 8 tuần. Sau 54 tuần, nhận thấy có sự giảm đáng kể triệu chứng của VKDT, theo đánh giá của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (American College of Rheumatology- ACR). Hãng dược phẩm Celtrion cũng có một chế phẩm tương tự là infliximab biosimilar dùng trong điều trị VKDT và các bệnh tự miễn khác.

2-HUMIRA® (adalimumab): biệt dược do Abbvie sản xuất, được giới thiệu lần đầu tại Mỹ (2/2003).

Adalimumab là một kháng thể đơn dòng IgG1 tái tổ hợp của người, ức chế đặc hiệu TNF-α. Tiêm dưới da 2 tuần 1 lần cho thấy tỷ lệ đáp ứng với thuốc tương tự như Methotrexat, còn khi phối hợp với Methotrexat cho tỷ lệ đáp ứng gấp đôi so với dùng Methtrexat đơn độc. Trong nghiên cứu quan sát thực hiện ở những bệnh nhân đã hoàn thành các phản ứng thử nghiệm lâm sàng pha III (n = 3433 ), hiệu quả của Adalimumabđược duy trì trong ba năm, kể cả trên những bệnh nhân chưa từng, đã từng, hoặc điều trị không liên tục bằng các thuốc kháng TNF trước đó.

PJ-BB422_HUMIRA_F_20110621194517

3-RITUXAN® và MabThera® (rituximab) lần lượt là hai sản phẩm của Roche và Genentech/Biogen Idec. Rituximab là kháng thể đơn dòng dạng khảm chuột/người, gắn đặc hiệu vào kháng nguyên xuyên màng CD20. Ngoài dạng bào chế tiêm tĩnh mạch, hiện đang nghiên cứu dạng tiêm dưới da. Rituximab được giới thiệu lần đầu tiên với chỉ định điều trị VKDT tại Châu Âu và Mĩ năm 2006.

Kết thúc thử nghiệm lâm sàng pha III đã chỉ ra, nhiều bệnh nhân khi dùng Rituximab kết hơp với Methotrexat đã thể hiện sự cải thiện tình trạng bệnh rõ rệt nếu so sánh với những bệnh nhân chỉ dùng Methotrexat. Hiện nay đã có 3 rituximab biosimilars được đưa ra thị trường.

4-ACTEMRA® (toxilizumab): biệt dược do Roche sản xuất, là kháng thể đơn dòng ức chế receptor của Interleukin 6 (IL-6) được nghiên cứu đầu tiên bởi Chugai Pharmaceutical, và đồng phát triển bởi Roche sau đó. Thuốc được giới thiệu lần đầu để điều trị VKDT tại Nhật Bản vào năm 2008.

Thuốc cho thấy tác dụng làm tăng hoạt dịch trong bệnh VKDT, điều này tương quan với các dấu hiệu trên lâm sàng và trong các nghiên cứu. Trị liệu bằng toxilizumab cho thấy sự cải thiện rõ ràng Thang số đánh giá mức độ hoạt động của bệnh (thang DAS28) từ mức ban đầu 5.53 lên 3.00 ở tuần thứ 28 trong một nghiên cứu trên 2072 bệnh nhân mắc VKDT vừa và nặng. Tỷ lệ thuyên giảm là 45% sau 28 tuần.

5- SIMPONI® (golimumab) của Janssen Biotech,một kháng thể đơn dòng có ái lực cao và ức chế hoàn toàn TNF-α, được phê chuẩn lần đầu vào năm 2009, với hai dạng bào chế là tiêm dưới da và tiêm tĩnh mạch.

Đây là một trong số những tác nhân sinh học dung nạp tốt, các tác dụng phụ thường nhẹ và ít phải ngừng điều trị. Sử dụng đồng thời Simponi và Methotrexat cho bệnh nhân VKDT vừa và nặng có tác dụng ức chế đáng kể sự tiến triển của bệnh trên phim chụp X-quang, so sánh với khi dùng Methotrexat đơn độc (theo dữ liệu nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng pha III. Xấp xỉ khoảng 60% bệnh nhân sử dụng golimumab đạt được ít nhất 20% sự cải thiện theo thang ACR20 sau 14 tuần; gần 66% bệnh nhân có đáp ứng sau 52 tuần.

6-CIMZIA® (certolizumab pegol) của nhà sản xuất Astellas Pharma/UCB, có cấu trúc giống một mảnh của phần nhận biết kháng nguyên (Fab) của kháng thể đơn dòng, có ái lực với TNF-α.

Dạng tiêm dưới da lần đầu được phê chuẩn vào năm 2009. Ở tuần 12 của thử nghiệm lâm sàng pha IIIb, có 51.1% bệnh nhân sử dụng certolizumab pegol đạt được sự cải thiện tình trạng bệnh theo thang điểm ACR20, so với 25.9% bệnh nhân ở nhóm đối chứng. Certolizumab pegol cải thiện nhanh chóng mệt mỏi, khó ngủ và mức độ đau; và được xem là liên quan đến sự cải thiện nhanh chóng và nhất quán ở các hầu hết bệnh nhân VKDT, không kể những bệnh nhân đã điều trị trước đó bằng các yếu tố ức chế hoại tử khối u.

Biosimilar và thách thức

Hầu hết các thuốc đề cập ở trên đều có dạng biosimilar tương ứng. Trương thời gian khởi đầu, các biosimilar được dự kiến là có khả năng cạnh tranh như một liệu pháp thay thế điều trị cho branded drugs, hoặc nói cách khác, như các thuốc generic giá rẻ. Các bác sĩ cũng nên cẩn thận trong việc chuyển đổi loại thuốc sử dụng cho bệnh nhân khi chưa có bằng chứng rõ ràng về mặt lâm sàng của chúng. Hiện đã có 4 loại biosimilar dùng để điều trị VKDT trên thị trường nhưng con số này có thể tăng lên trong vài năm tới, và rõ ràng điều này sẽ đe dọa đến những doanh số hàng tỷ đô la. Tuy nhiên có vài trường hợp ngoại lệ.

Gần đây, hoạt chất Secukinumab của Novatis là một kháng thể đơn dòng nhắm đích lên IL-17A, hiện đã hoàn tất thử nghiệm lâm sàng pha III ở nhiều nước trên thế giới vào năm 2013. Ngoài ra còn có sirukumab, đồng phát triển bởi GlaxoSmithKline/Centocor- một kháng thể đơn dòng IgG1 kappa có tác dụng ức chế IL-6 cũng đã đi vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng pha II. Các thuốc này đều cho tác dụng cải thiện VKDT đáng kể trên nghiên cứu.

Tại các pha thử nghiệm sớm, các biosimilar cũng đã được quan tâm nghiên cứu và cho thấy một cơ chế tác dụng có triển vọng trong điều trị ung thư và các bệnh tự miễn khác. Có thể kể đến như ofatumumab của Genmab (Đan Mạch); XmAB 5871 của Xencor (Hoa Kỳ); ozoralizumab của Ablynx (Bỉ); BTT 1023 của Biotie Therapies Corp (Phần Lan) và ixekizumab của Elli Lilly. Các hoạt chất này cũng có triển vọng lớn trong điều trị VKDT và có lẽ một ngày nào đó sẽ cạnh tranh với sự đổ bộ như bão táp của các biosimilar.

Do các rào cản pháp lý và khả năng cạnh tranh thấp từ các thế hệ sản phẩm tiếp theo, mức độ tiết kiệm chi phí đầu tư vào các biosimilar trong thập kỷ này có khả năng là thấp. Có vẻ như việc đưa vào thực hành điều trị bằng biosimilars đã phát triển trong thời gian qua, nhưng phần lớn chỉ tập trung vào điều trị ngắn hạn, ít được kết hợp điều trị.

(1) Biosimilars (hay Follow-on biologics) là những từ dùng để chỉ các phiên bản kế tiếp của các thuốc sinh học, được nghiên cứu và được cấp phép lưu hành sau khi thuốc gốc hết hạn bản quyền.

Theo Nguyễn Hương Thảo – NAMUD.vn – Nguồn: pmlive 

Lịch sử viêm khớp dạng thấp.

Viêm khớp dạng thấp đã biết từ hồi Hypocrate, nhưng mãi đến những năm gần đây mới thống nhất được tên gọi, tiêu chuẩn chẩn đoán và cơ chế bệnh sinh. Bệnh có nhiều tên gọi: gúte suy nhược tiên phát (Beauvais A.L:1800), bệnh khớp Charcot (Chrcot:1853), thấp khớp teo đét (Sydenham:1883), viêm khớp dạng thấp (Garrod:1890), viêm đa khớp mạn tính tiến triển, viêm đa khớp nhiễm khuẩn không đặc hiệu.
Ngày nay, đa số các nước trên thế giới đều gọi là viêm khớp dạng thấp. ở Việt Nam, hội nghị toàn quốc lần thứ 2 về các bệnh thấp khớp học tại Đà Lạt tháng 3/1996 đã thống nhất tên gọi viêm khớp dạng thấp trong toàn quốc và được sử dụng chính thức trong giảng dạy tại các trường đại học y khoa. Viêm khớp dạng thấp gặp tất cả các nước trên thế giới. Bệnh chiếm từ 0,5 – 3% dân số, ở Việt Nam tỷ lệ chung trong nhân dân là 0,5%, chiếm 20% số bệnh nhân mắc bệnh khớp điều trị ở bệnh viện. Bệnh gặp chủ yếu ở phụ nữ chiếm 70-80% và 70% số bệnh nhân mắc bệnh ở tuổi trung niên. Một số trường hợp mang tính chất gia đình.
Nguyên nhân: Cho đến nay nguyên nhân của bệnh viêm khớp dạng thấp còn chưa được biết rõ. Người ta coi viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn dịch với sự tham gia của nhiều yếu tố:
+ Yếu tố tác nhân gây bệnh: có thể là một loại vi rút epstein-barr khu trú ở tế bào lympho, chúng có khả năng làm rối loạn quá trình tổng hợp globulin miễn dịch.
+ Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan đến giới tính và tuổi.
+ Yếu tố di truyền: đã từ lâu yếu tố di truyền trong bệnh viêm khớp dạng thấp được chú ý vì tỉ lệ mắc bệnh cao ở những người thận trong gia đình bệnh nhân;
ở những cặp sinh đôi cùng trứng và mối liên quan giữa kháng nguyên hoà hợp tổ chức HLA-DR4 và bệnh viêm khớp dạng thấp. ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp thấy 60-70% bệnh nhân mang kháng nguyên này.
Nguồn benhhoc.com.

About Nhóc Dược sĩ

Thông tin Dược ● Y học thường thức ● Tài nguyên học tập

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhóc Dược sĩ

Nhập địa chỉ email của bạn để đăng ký để theo dõi và nhận thông báo các bài viết mới qua email.

Nhóc Dược sĩ Fanpage

Lịch cập nhật bài viết

Tháng Mười Một 2014
M T W T F S S
« Oct   Dec »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Biên tập viên

Đã truy cập

  • 164,434 lượt
%d bloggers like this: