//
bạn đang xem...
Kinh doanh dược phẩm, Quản lý dược, Sử dụng thuốc, Thông tin Dược

Thuốc nội và ngành Dược Việt Nam

NAMUD – Mang lên đây chia sẻ cho mọi người có cái nhìn tổng quan tình hình hiện nay. Bài viết của tác giả Phương Liên gồm 5 phần từ trang Baotintuc.vn.

Thuốc nội: Bài 1 – Bụt chùa nhà không thiêng?

Dù giá bán luôn cao ngất ngưởng và rất khó kiểm soát về chất lượng nhưng nhiều năm nay trên thị trường, thuốc ngoại luôn lấn át thuốc nội. Câu hỏi giải pháp hữu hiệu nào giúp thuốc nội “lên ngôi” do đó ngày càng nóng hơn.

Theo khẳng định của cả lãnh đạo Bộ Y tế và các doanh nghiệp dược, hiện nay chất lượng thuốc nội ngày càng được nâng cao và thường có giá rẻ hơn so với thuốc nhập ngoại cùng loại nhưng “bụt chùa nhà không thiêng”, lượng tiêu thụ thuốc nội lại ngày càng giảm.

Chất lượng tăng

“Những năm qua, ngành Dược Việt Nam đã có những thay đổi lớn, thuốc sản xuất trong nước (gọi là thuốc nội) đã đáp ứng gần 50% nhu cầu thuốc phòng và điều trị bệnh cho nhân dân. Các nhà máy dược phẩm đã được đầu tư những dây chuyền hiện đại. Chất lượng thuốc ngày càng nâng cao và giá thuốc rẻ hơn hẳn so với thuốc nhập ngoại cùng loại”, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế khẳng định.

Hiện nay, cả nước có 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc, trong đó 98 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược, 80 doanh nghiệp sản xuất thuốc đông dược. Đặc biệt, số lượng cơ sở sản xuất thuốc đạt Tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) ngày một tăng, từ 2 doanh nghiệp năm 1997 lên 113 doanh nghiệp năm 2011. Đến nay, 98 doanh nghiệp sản xuất tân dược đều đạt GMP theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới (GMP – WHO).

Nhiều doanh nghiệp dược, nhất là tại TP.HCM đã và đang tăng cường đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, đạt cả tiêu chuẩn GMP của châu Âu (GMP – EU). Nhờ vậy, chất lượng thuốc nội ngày được nâng cao, bên cạnh những dạng thuốc truyền thống như viên nén, viên nang, thuốc nước, nhiều dạng bào chế mới phục vụ nhu cầu điều trị đã được sản xuất như: Thuốc đông khô, khí dung, thuốc vi nang, thuốc giải phóng hoạt chất chậm… Thuốc nội cũng đang được xuất khẩu sang một số thị trường như: Đức, Phần Lan, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Xinhgapo…

“Bên cạnh những loại thuốc thông thường, trên thị trường đã xuất hiện nhiều loại thuốc nội thuộc nhóm bệnh tim mạch, tiểu đường, thần kinh… Các thuốc sản xuất trong nước ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu điều trị, đáp ứng 234/314 hoạt chất trong Danh mục thuốc thiết yếu của Việt Nam và đầy đủ 29 nhóm tác dụng dược lý theo khuyến cáo của WHO“, ông Cao Minh Quang, Thứ trưởng Bộ Y tế cho hay.

Nhưng sử dụng giảm

Tuy nhiên, điều trớ trêu là việc sử dụng thuốc nội tại chính các cơ sở điều trị công lập và trên thị trường lại đang có xu hướng giảm đi. “Trong các năm gần đây, giá trị thuốc nội so với tổng giá trị tiền thuốc sử dụng đang giảm dần, từ 52,85% năm 2007 xuống còn 47,82% năm 2011”, một đại diện của Hiệp hội doanh nghiệp Dược Việt Nam cho biết.

“Phân tích kết quả trúng thầu thuốc trong thanh toán Bảo hiểm Y tế (BHYT) tại tỉnh Vĩnh Long cho thấy, tỷ lệ chi phí sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại tỉnh này cũng có xu hướng giảm: Năm 2011, chi phí thuốc nội tương đương với 40% tổng chi phí thuốc nhưng năm 2012 chi phí này giảm còn 39%. Tỷ lệ mặt hàng thuốc nội cũng giảm từ 54% (năm 2011) xuống còn 30% (năm 2012).

Tại tỉnh Phú Yên cũng tương tự, nếu năm 2011 tỷ lệ chi phí thuốc nội tương đương 78% tổng chi phí thuốc thanh toán BHYT thì năm 2012 chỉ còn có 40%, tỷ lệ mặt hàng thuốc nội từ 78%, giảm xuống còn 75%”, ông Nguyễn Minh Thảo, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, cho biết.

Khảo sát của Cục Quản lý Khám chữa bệnh về tỷ lệ sử dụng thuốc nội tại các tuyến bệnh viện trong năm 2010 cho thấy, thuốc sản xuất trong nước được dùng tại 1.018 bệnh viện công lập có tỷ lệ thấp, chỉ bằng khoảng 38,7% và càng lên tuyến trên thì tỷ lệ sử dụng thuốc nội càng giảm. Tại các bệnh viện trung ương, tỷ lệ này chỉ chiếm 11,9%, tại bệnh viện tỉnh/thành phố là 33,9%, còn tại tuyến huyện là 61,6%.

Tại sao thuốc nội lại thua ngay trên sân nhà trong khi các doanh nghiệp dược Việt Nam ngày càng áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại, sản phẩm đa dạng, chất lượng ngày một nâng cao, giá cả hợp lý và có thể đáp ứng cơ bản đủ thuốc thiết yếu trong nước…?

“Khi đã nhập khẩu thuốc ngoại vào Việt Nam thì rõ ràng các doanh nghiệp dược phải có thủ thuật để bán được hàng. Từ nhiều lợi thế, nhất là sự bất cập trong việc các nhà quản lý chưa kiểm soát được giá nhập khẩu thuốc ngoại, các doanh nghiệp nước ngoài có thể tác động tới đội ngũ bác sĩ thông qua hình thức không chính thức (hoa hồng – PV) hoặc bằng “mác ngoại” và các giấy tờ chứng minh chất lượng thuốc do nước sở tại cấp…

Ngoài ra, còn khá nhiều lý do khác nên bao nhiêu năm nay thuốc nội vẫn thua ngay trên sân nhà”, PGS.TS Phạm Khánh Phong Lan, Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, xót xa nhận định.

Theo PGS.TS Phong Lan, có thể tạm chia các loại thuốc trên thị trường hiện nay ra làm 2 loại chính: Một là biệt dược gốc, là thuốc mới phát minh, được cấp phép lưu hành lần đầu tiên trên cơ sở đã có đầy đủ các số liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả.

Nhiều quốc gia trên thế giới chưa có điều kiện triển khai nghiên cứu và tự sản xuất được các loại thuốc biệt dược gốc, đồng thời do có thời gian độc quyền sản xuất (khoảng 20 năm) nên giá thành cùa loại thuốc này rất cao. Hai là thuốc Generic, là thuốc thành phẩm nhằm thay thế thuốc mới phát minh, được sản xuất không có giấy phép nhượng quyền của công ty phát minh và được đưa ra thị trường sau khi các quy định về độc quyền phát minh hết hạn. Và hiện tại, thị trường dược phẩm Việt Nam đang có rất nhiều loại thuốc Generic, trong đó phần lớn là thuốc nhập ngoại nhưng chất lượng ra sao thì ngay các nhà quản lý Việt Nam cũng không thể khẳng định vì chưa kiểm soát được.

 Thuốc nội: Bài 2 – Lép vế vì tâm lý ‘sính’ ngoại

Mặc dù thuốc nội đã đáp ứng được 50% nhu cầu điều trị trong nước, nhiều loại thuốc “made in Viet Nam” đã xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như: Đức, Phần Lan, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Xinhgapo, Malaixia, Philíppin…; thế nhưng, nhiều “thượng đế” vẫn chỉ tin dùng thuốc ngoại.

Nhiều người tiêu dùng vẫn thích thuốc ngoại hơn thuốc nội.

Người dân thờ ơ

Trời chuyển mùa từ hè sang thu nên bé Phương Anh (4 tuổi) nhà chị Thu Phương, ở Khu tập thể Quỳnh Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội lại sụt sịt, sổ mũi, ho và hơi sốt. Sau khi vội vàng đưa con tới một bác sĩ ở phòng khám tư gần nhà vốn khét tiếng là “ sính” dùng kháng sinh mạnh, đắt tiền, chị Phương buồn bã ra về với kết luận bé Phương Anh bị viêm họng và 1 đơn thuốc dài, trị giá 600.000 đồng với nhiều loại thuốc ngoại gồm: kháng sinh, long đờm, siro…

Chị Phương cho biết, như bao bà mẹ khác, trước đây chị Phương cũng rất lo và không muốn cho con trẻ dùng kháng sinh mạnh vì sợ rồi sẽ nhờn thuốc, ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị khi con mắc bệnh nặng hơn. Thế nhưng theo kinh nghiệm của nhiều mẹ truyền cho nhau vẫn là phải dùng thuốc ngoại, vì dùng thuốc nội thường mất nhiều thời gian điều trị hơn. Trước đây, chị Phương cũng đưa con đi khám một bác sĩ trưởng khoa Nhi tại một bệnh viện lớn ở Hà Nội vì nghe các mẹ “mách” bác sĩ này rất hạn chế kê kháng sinh mạnh, thường chỉ định thuốc nội nên giá một lần khám và mua thuốc thường rẻ, chỉ hết khoảng 200.000 đồng.

“Tuy nhiên, cháu phải tái khám tới 2 lần (5 ngày/lần) mà vẫn chưa hết ho, nước mũi thì ngày một xanh. Sau đó, cháu kêu đau tai nên gia đình đưa đi khám chuyên khoa tai mũi họng. Hậu quả là cháu bị viêm tai giữa nên lại phải điều trị kháng sinh mạnh của ngoại thêm 10 ngày nữa. Do đó, giờ thì cháu cứ ho, sốt là em phải đưa đi tới bác sĩ K. ngay, dùng thuốc ngoại tuy có đắt hơn nhưng có thể chất lượng tốt hơn, tác dụng nhanh hơn. Nhà em có mỗi mụn con nên sức khỏe của cháu là quan trọng nhất, cháu mà ốm là cả nhà em ốm theo nên không thể chần chừ, so đo thuốc ngoại hay thuốc nội được…”, chị Phương giải thích.

Thực tế, không chỉ có chị Phương mà nhiều người dân khác cũng có tâm lý “sính” thuốc ngoại. Chị Thu Hà, dược sĩ một cửa hàng thuốc ở đường Trần Khát Chân (Hà Nội) cho hay: “Nếu không quá khó khăn, khách hàng ít chú ý tới vấn đề kinh tế khi mua thuốc nội hay thuốc ngoại. Đơn giản là vì bác sĩ kê thuốc ngoại nên người dân tin tưởng và nhất nhất mua theo. Nhiều trường hợp thấy dược sĩ giới thiệu thuốc nội cùng loại với thuốc ngoại có giá rẻ hơn thì khách hàng còn tỏ ra nghi ngại nhà thuốc, rồi đòi đơn thuốc lại để đi mua chỗ khác cho đúng y như đơn của bác sĩ đã kê”.

Theo chị Hà, với những trường hợp mắc bệnh cảm cúm, ho sốt thông thường, tự đi mua thuốc thì cũng thường thích mua thuốc ngoại. Thỉnh thoảng mới có vị khách hỏi một số loại thuốc nội mà nhà thuốc không có hoặc đến nay đã ngừng sản xuất…

Thiếu thông tin về thuốc nội

Theo TS. Lê Nhã Phương, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu y tế Domesco (Đồng Tháp): Quả thực, tâm lý “sính ngoại” của một bộ phận không nhỏ người dân là một trong những nguyên nhân chính khiến thuốc nội bị thua ngay trên sân nhà.

“Nhiều người dân quan niệm thuốc đắt thì mới tốt và nhanh khỏi bệnh. Nhưng đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm. Thuốc ngoại (cũng là thuốc Generic, thuốc hết thời gian bảo hộ độc quyền – PV) đắt do chi phí sản xuất ở nước ngoài cao hơn Việt Nam, cộng thêm chi phí vận chuyển, nhập khẩu, quảng cáo nhiều… nên khi đến tay người tiêu dùng, thuốc ngoại đắt hơn hẳn so với thuốc nội. Trong khi đó, thuốc nội có chất lượng không hề thua kém, mà giá lại rẻ. Đơn cử, hiện Domesco có 11 sản phẩm thuốc được chứng minh tương đương sinh học, tức là đã khẳng định chất lượng tương đương với thuốc gốc, có giá rẻ hơn từ 10 – 60% so với thuốc ngoại; nhưng thực tế thì người dân vẫn chuộng thuốc ngoại hơn”, ông Phương thở dài.

Nhận định về vấn đề này, PGS.TS Phạm Khánh Phong Lan, Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh cho rằng: “Thuốc là một mặt hàng đặc biệt nên không phải cứ rẻ mà người dân sử dụng, thậm chí nhiều “thượng đế” còn cho rằng thuốc rẻ là thuốc không tốt. Vậy nên, muốn người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam thì cần giải quyết vấn đề làm thế nào để người dân tin tưởng vào thuốc nội. Tuy nhiên, đây là vấn đề không đơn giản, đặc biệt là khi thị trường đang có quá nhiều loại thuốc Generic cùng loại cạnh tranh nhau”.

 Theo bà Phong Lan, khi sử dụng thuốc nội, lẽ ra bác sĩ và người bệnh sẽ thấy yên tâm hơn vì nhà máy sản xuất thuốc đó có địa chỉ rõ ràng, có dây chuyền sản xuất đã được kiểm định, cơ quan chức năng vẫn tiến hành hậu kiểm chất lượng thuốc hàng năm và phần lớn lại có giá thấp hơn giá thuốc ngoại. Thế nhưng chỉ vì tâm lý “sính ngoại”, thiếu thông tin về chất lượng thuốc nội nên nhiều người dân đến nay vẫn chỉ tin dùng thuốc ngoại. Do đó, luôn tái diễn nghịch lý là các doanh nghiệp dược Việt Nam đã nghèo lại càng khó, còn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc ngoại thì ngày một khấm khá vì giá thuốc ngoại cao hơn hẳn thuốc nội… Kết quả là doanh nghiệp ngoại càng có thêm nhiều kinh phí “quảng cáo” thuốc tới các bác sĩ (30% doanh thu), trong khi các doanh nghiệp dược trong nước bị khống chế về tỷ lệ quảng cáo (10% doanh thu)… Rốt cuộc, cái vòng luẩn quẩn này nhiều năm qua cứ quấn chặt các doanh nghiệp dược Việt Nam, khiến thuốc nội luôn “thua đau”, bị thuốc ngoại lấn át ngay trên sân nhà.

 Thuốc nội: Bài 3 – Bác sĩ cũng quay lưng

 Với mặt hàng thuốc thì chính đội ngũ bác sĩ mới là người quyết định cho người bệnh dùng thuốc gì, liều lượng ra sao. Vậy nên, thuốc nội không thể “lên ngôi” khi vẫn còn những cán bộ ngành y ít kê đơn, chưa tin tưởng chất lượng thuốc nội…

 Nghi ngại về chất lượng thuốc nội

 “Chúng tôi luôn ưu tiên sử dụng thuốc nội nhưng nói gì thì nói việc lựa chọn sử dụng thuốc nào thì tiêu chí đầu tiên, quan trọng nhất vẫn phải là an toàn, hiệu quả rồi sau đó mới nói đến chuyện giá cả. Nhưng hiện nay, chất lượng của nhiều loại thuốc nội chưa ngang bằng với thuốc ngoại”, ông Nguyễn Ngọc Hiền, Phó Giám đốc Bệnh viện (BV) Bạch Mai, Hà Nội, khẳng định.

Trình dược viên giới thiệu thuốc cho cửa hàng.

 Đồng tình với quan điểm này, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai cho biết: “Là những nhà khoa học, việc sử dụng thuốc lại liên quan đến sức khỏe, thậm chí tính mạng của người bệnh nên chúng tôi không thể chỉ tin vào lời nói suông là ‘thuốc của công ty tôi tốt lắm’. Do đó, dù biết 90% nguyên liệu sản xuất thuốc là nhập khẩu từ nước ngoài, rồi hàm lượng thuốc so với thuốc gốc là như nhau… nhưng các bác sĩ vẫn cần những bằng chứng cụ thể chứng minh chất lượng thuốc nội, nhất là việc loại thuốc đó đã được thử tương đương sinh học chưa…. Chúng tôi luôn mở cửa để các doanh nghiệp dược trong nước vào giới thiệu sản phẩm (miễn phí). Tuy nhiên, đến nay những thông tin về thuốc nội (Generic), nhất là những thuốc đã được khẳng định tương đương sinh học với thuốc gốc đến với chúng tôi chưa nhiều…”.

 TS Trần Viết Tiệp, Giám đốc BV Việt Nam- Thụy Điển Uông Bí, cũng cho hay, dù BV Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí luôn chú trọng việc giám sát, yêu cầu các bác sĩ thực hiện đúng quy định về phác đồ điều trị, đường lối sử dụng thuốc nội, có quy chế phạt hàng tháng đối với nhân viên không thực hiện đúng quy định…, tuy nhiên, giá trị thuốc sản xuất trong nước tại BV cũng chỉ chiếm 15 – 16% tổng số tiền thuốc. Nguyên nhân chủ yếu là BS có thói quen nhiều năm sử dụng thuốc ngoại, các cơ sở điều trị gặp không ít khó khăn trong việc đánh giá chất lượng của thuốc nội. Đặc biệt, hoạt động tuyên truyền thuốc nội thời gian qua còn quá đơn giản, chủ yếu tập trung vào quảng cáo các thuốc thông thường có nguồn gốc từ dược liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng như ti vi, sách báo, tạp chí. Trong khi đó, các công ty dược nước ngoài thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu thuốc (cả trong và ngoài nước- PV), tạo khả năng tiếp cận thông tin về thuốc ngoại cho các cán bộ y tế…

 Nhức nhối chuyện “hoa hồng” kê toa

 Còn một vấn đề “tế nhị” khiến các bác sĩ không mặn mà với thuốc nội là tình trạng bác sĩ thích kê thuốc ngoại vì được trích hoa hồng cao hơn thuốc nội. Giám đốc của một công ty dược trong nước chia sẻ: “Xét về chế độ đãi ngộ đối với bác sĩ thì doanh nghiệp nội quả thực “lép vế” so với doanh nghiệp nước ngoài. Không chỉ riêng việc chiết khấu với tỷ lệ phần trăm cao hơn hẳn thuốc nội, các công ty nước ngoài còn sẵn sàng bỏ ra hàng ngàn USD để mời các bác sĩ, thậm chí là cả gia đình họ, đi hội thảo ở nước ngoài nhưng thực ra là đi tham quan du lịch”.

 Tại Diễn đàn Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam tổ chức hôm 20/8 tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến “bật mí” rằng bà cũng từng đi hội thảo ở nước ngoài do doanh nghiệp dược mời.

“Nhưng sau lần đó, tôi không bao giờ đi nữa, gọi là hội thảo nhưng thực ra là đi tham quan du dịch, đi shoping. Mỗi chuyến đi ấy thử hỏi hết bao nhiêu tiền trong khi những hoạt động đó đều ảnh hưởng đến giá thuốc”, bà Tiến nói.

Do đó, Bộ trưởng Bộ Y tế khẳng định sẽ có một buổi làm việc với doanh nghiệp dược về vấn đề quảng cáo, tổ chức các chuyến đi cho bác sĩ tại nước ngoài, đồng thời sẽ yêu cầu các lãnh đạo BV không được tham gia các chuyến đi nước ngoài do doanh nghiệp dược tổ chức nếu không nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ quản lý…

Cũng tại diễn đàn này, đại diện các BV cũng tỏ rõ thái độ bàng quan với việc làm thế nào nâng cao tỷ lệ sử dụng thuốc nội trong hệ thống điều trị. Mặc dù trong danh sách khách mời có tới hơn 100 đại diện các BV nhưng tới 15 giờ 14 phút thì số đại diện này còn trong hội trường chỉ đếm được trên đầu ngón tay, Bộ trưởng Bộ Y tế “điểm danh” mãi thì cũng chỉ có đại diện BV Xanh Pôn lên tiếng về việc có thể nâng mức tỷ lệ thuốc nội trong BV từ nay đến 2015 như thế nào. Vậy nên, diễn đàn thúc đẩy Người Việt ưu tiên dùng thuốc Việt do Bộ Y tế tổ chức hôm đó bỗng dưng lại trở thành sân chơi riêng của các doanh nghiệp dược trong nước, cho dù mục đích chính của diễn đàn này là nơi tăng cường sự kết nối giữa 3 bên là người dân, bác sĩ kê đơn và các nhà sản xuất thuốc.

Từ thực tế này cho thấy giữa hai ngành y và dược rõ ràng chưa có được một cách nhìn chung về chất lượng và sự cần thiết phải chung tay nâng cao tỷ lệ sử dụng thuốc nội. Vậy nên, tình trạng “ông chẳng, bà chuộc“ đến nay chưa được khắc phục, các doanh nghiệp dược “khăng khăng” là đã sản xuất được nhiều loại thuốc Generic, chất lượng tương đương thuốc ngoại, nhưng nhiều bác sĩ vẫn không hay biết, không những kê đơn thuốc Generic của ngoại mà còn kê đơn thuốc biệt dược cho người bệnh, khiến chi phí chữa bệnh bị đẩy lên cao. Ngược lại, các doanh nghiệp dược lại chưa thực sự chú ý cung cấp thông tin về chất lượng thuốc nội cho các bác sĩ, đó là chưa nói đến chuyện thuốc nội cũng mới chỉ đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu điều trị nên càng tạo cớ cho nhiều bác sĩ duy trì “thói quen” kê đơn thuốc ngoại…

Thuốc nội: Bài 4 – ‘Thiệt đơn, thiệt kép’

 “Chúng tôi không mong muốn ưu đãi gì, chỉ mong được đối  xử công bằng như những doanh nghiệp dược nước ngoài”, ông Ông Văn Dũng, Tổng Giám đốc Công ty Dược phẩm Stada Việt Nam (TP Hồ Chí Minh), trần tình.

 Quá dễ dãi với thuốc ngoại

 Theo ông Dũng, hiện nay, khi thuốc ngoại vào thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp chỉ cần hoàn thành một số thủ tục: Kê khai giá thuốc nhập khẩu tại hải quan, tức là giá CIF (gồm giá xuất xưởng + chi phí bảo hiểm + chi phí vận chuyển – PV), nộp một khoản phí nhỏ (tương đương như doanh nghiệp dược Việt Nam là 200 USD/loại sản phẩm), xuất trình giấy chứng nhận về chất lượng sản phẩm của nước xuất xứ…

Bào chế thuốc cổ truyền sang các dạng bào chế hiện đại như: Viên nén, viên nang cứng, viên nang mềm tại Công ty Traphaco.

 Trong khi đó, các nhà quản lý Việt Nam chưa thẩm định được giá CIF cao hơn bao nhiêu so với thực tế. Kết quả là thuốc ngoại có giá thành cao hơn rất nhiều so với thuốc nội dù cả hai cùng là thuốc Generic (thuốc thành phẩm thay thế thuốc mới phát minh, được sản xuất sau khi các quy định về độc quyền phát minh hết hạn), có thể cùng nhập nguồn nguyên liệu tại một công ty, thậm chí nhà máy sản xuất thuốc ngoại còn xây dựng từ những năm 60 – 70 của thế kỷ trước, trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu hơn so với nhà máy sản xuất của ta hiện nay.

 “Trong khi đó, giá của thuốc nội lại được quản lý rất chặt chẽ, từ giá nguyên liệu đầu vào cho tới giá viên thuốc bán ra bao nhiêu, việc tuyên truyền, quảng cáo của thuốc nội cũng bị khống chế là 10% doanh thu (trong khi tỷ lệ này ở thuốc ngoại là 30%)”, ông Dũng khẳng định.

 Hiện tại, Stada đã xuất khẩu thuốc sang khoảng 30 quốc gia, trong đó có cả một số nước châu Âu. Mỗi khi muốn xuất khẩu thuốc sang thị trường nước ngoài, Stada phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc khắt khe của các nước sở tại. Bộ Y tế các nước thường cử chuyên gia sang tận Việt Nam kiểm tra nhà xưởng, chất lượng sản phẩm…, nếu đạt yêu cầu thì thuốc của Stada mới được chấp nhận nhập khẩu. “Ngược lại, thuốc ngoại vào Việt Nam rất dễ dàng, không hề bị kiểm tra chất lượng. Ví dụ, trên thị trường đang cho phép lưu hành rất nhiều loại thuốc từ Ấn Độ, nhưng liệu với việc chỉ ngồi một chỗ thẩm định hồ sơ thì làm sao các nhà quản lý Việt Nam biết được trong số 15.000 công ty dược của Ấn Độ, công ty nào thực sự sản xuất tốt? Nếu chỉ căn cứ theo giấy chứng nhận về chất lượng của nước sở tại thì cũng khó mà khẳng định được rằng thuốc ngoại có được tiến hành nghiêm túc việc kiểm định tương đương sinh học, chứng minh đạt độ an toàn và hiệu quả điều trị giống như thuốc gốc hay không. Do đó, doanh nghiệp dược trong nước gặp rất nhiều khó khăn vì thuốc nội phải cạnh tranh thiếu công bằng so với thuốc ngoại”, ông Dũng than phiền.

 Bà Huỳnh Thị Lan, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Hóa – Dược phẩm MEKOPHAR, TP Hồ Chí Minh, cũng mong mỏi: “Quy trình nhập thuốc ngoại vào Việt Nam cần chặt chẽ hơn, nhất là phải bình đẳng như khi doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thuốc sang các nước”.

 Thực tế, Việt Nam đang nhập khẩu thuốc của nước ngoài nhưng lại không nắm được chính xác tình trạng sản xuất của công ty đó ở nước sở tại. “Có ý kiến từ Bộ Y tế giải thích rằng ta không đủ ngân sách và nhân lực để cử người sang nước ngoài kiểm tra, nhưng nếu các cơ quan quản lý kết hợp chặt chẽ với những nhà nhập khẩu hoặc các cơ quan tham tán thương mại thì sẽ làm tốt được việc này mà không tốn kém nhiều. Bên cạnh đó, chúng ta còn coi nhẹ việc tiến hành làm tương đương sinh học với các thuốc ngoại. Thiết nghĩ cơ thể người Việt Nam có các đặc điểm riêng khác với cơ thể người nước ngoài về việc phản ứng, hấp thu thuốc; vì vậy cần phải yêu cầu thuốc ngoại xác định tương đương sinh học ngay tại Việt Nam”, bà Lan nhấn mạnh.

 Đó là chưa kể, phí đăng ký thuốc ngoại lưu hành tại Việt Nam hiện còn quá thấp (khoảng 200 USD/loại sản phẩm, trong khi chi phí đăng ký thuốc vào các nước rất cao, khoảng 3.000 – 5.000 USD/loại sản phẩm. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các công ty dược nước ngoài ồ ạt nộp hồ sơ đăng ký lưu hành thuốc tại Việt Nam.

 Nhìn từ công tác quản lý

 Theo ông Ông Văn Dũng, đều là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới nhưng Inđônêxia chỉ cho phép nhập khẩu các thuốc mới phát minh, thuốc còn bản quyền chứ không bao giờ cho phép nhập khẩu rất nhiều thuốc Generic như Việt Nam. Tương tự, muốn nhập khẩu thuốc vào Thái Lan thì các doanh nghiệp dược nước ngoài phải thử tương đương sinh học ở Thái Lan. Trong năm 2011, Thái Lan chỉ cấp phép nhập khẩu có 26 loại thuốc, trong khi đó, năm 2011 Việt Nam cho phép lưu hành khoảng 3.000 loại thuốc ngoại.

 Hiểu và thông cảm với nỗi khổ của doanh nghiệp dược, PGS.TS Phạm Khánh Phong Lan, Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh cho rằng: “Vấn đề cần thiết hiện nay là phải xem xét việc hạn chế nhập khẩu những loại thuốc mà Việt Nam đã sản xuất được. Trường hợp nhập khẩu thì phải chứng minh được loại thuốc ngoại đó hơn hẳn về chất lượng và giá rẻ hơn”.

 Theo bà Lan, chuyện vận động người Việt dùng thuốc Việt “không ở đâu xa” mà ngay tại chính cơ quan quản lý cần xem xét điều chỉnh lại phương thức quản lý các loại thuốc ngoại. “Nếu ngành y tế không có nhân lực đi thẩm định cơ sở vật chất, chất lượng của thuốc ngoại tại chính nước sở tại thì đừng cấp phép số đăng ký, cho thuốc ngoại lưu hành nữa, nhất là đối với các loại thuốc trong nước cũng sản xuất được”, bà Lan nhấn mạnh.

 Rõ ràng, nếu cứ mãi phải chịu cảnh “thiệt đơn, thiệt kép” như hiện nay, các doanh nghiệp dược trong nước sẽ luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt với thuốc ngoại, vì cùng 1 hoạt chất (chung tác dụng điều trị) nhưng đang có tới hàng chục loại thuốc (cả thuốc nội và thuốc ngoại) được tung ra thị trường. Và như PGS.TS Nguyễn Tiền Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai khẳng định: “Việt Nam cho nhập khẩu quá nhiều thuốc ngoại (thuốc Generic) mà trong nước cũng sản xuất được là một vấn đề bất cập nhất hiện nay. Vậy nên đang xảy ra sự nhập nhèm giữa thuốc nội và thuốc ngoại, nhiều bác sĩ cứ tưởng thuốc ngoại là tốt trong khi chất lượng thì cũng như thuốc nội vì đều là thuốc Generic”.

 Thuốc nội: Bài 5 – Rắc rối chuyện đấu thầu thuốc

 Cho đến nay, vẫn thiếu những văn bản quy định các cơ sở y tế phải ưu đãi đối với thuốc nội trong quá trình đấu thầu vào bệnh viện hoặc nâng cao tỷ lệ sử dụng thuốc nội hàng năm.

Khó kiểm soát bệnh viện “hứng thầu”

Theo PGS.TS Phạm Khánh Phong Lan, Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, chuyện đấu thầu thuốc trong bệnh viện hiện còn khá nhiều bất cập. Vậy nên, ngoài Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BYT-BTC ban hành ngày 19/1/2012 hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế (Thông tư 01) các đơn vị y tế và doanh nghiệp dược đang rất mong chờ Bộ Y tế sớm ban hành Thông tư hướng dẫn lập Hồ sơ mời thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế nhằm chuẩn bị cho việc đấu thầu thuốc năm 2013.

Người bệnh phải chịu nỗi đau bệnh tật và gánh nặng chi phí khi thuốc chữa bệnh điều chỉnh tăng giá liên tục.

“Khi Thông tư hướng dẫn lập Hồ sơ mời thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế được ban hành, sẽ có sự thống nhất chung về việc xây dựng tiêu chí, thang điểm đối với các hồ sơ mời thầu chứ nếu để các bệnh viện tự xây dựng tiêu chí như hiện nay sẽ khó tránh bất cập. Thực tế, doanh nghiệp dược trong nước có thể không trúng thầu không phải vì giá cao hay vì chất lượng kém mà có thể chỉ vì một lỗi kỹ thuật nào đó. Vậy nên, không có gì ngạc nhiên nếu doanh nghiệp dược có giá rẻ nhất lại không trúng thầu hoặc cùng với mức giá đó, họ có thể trúng thầu ở bệnh viện này nhưng ở bệnh viện khác thì không”, bà Lan nói.

Để tránh tình trạng một số bệnh viện cố tình “hứng thầu”, thời gian qua, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh đã hướng dẫn (mang tính chất gợi ý) cho các đơn vị trong công tác đấu thầu, yêu cầu các bệnh viện đưa ra một số tiêu chí chung trong việc xây dựng hồ sơ. Mục đích nhằm tránh tình trạng vì bệnh viện muốn chọn mặt hàng A trúng nên lấy các tiêu chí của mặt hàng này xây dựng tiêu chí chung để đánh giá các hồ sơ khác (dư luận gọi là “hứng thầu”) và khiến các mặt hàng khác dễ bị rớt thầu.

 “Ngay Thông tư 01, một văn bản mới nhất về đấu thầu thuốc cũng còn nhiều hạn chế. Đơn cử, trong Thông tư 01 vẫn chưa có cơ chế rõ ràng về việc ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước tại các cơ sở khám chữa bệnh. Đồng thời, chưa đưa ra được các điều kiện để đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của đơn vị tham gia đấu thầu và đơn vị mời thầu. Chưa có quy định ràng buộc các đơn vị khám chữa bệnh phải thanh toán đúng thời hạn; phải lấy hết số lượng thuốc đã trúng thầu, trong khi doanh nghiệp tham gia đấu thầu khi trúng thầu phải đảm bảo giữ giá và cung ứng đủ hàng trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng thầu”, một đại diện của Hiệp hội Doanh nghiệp dược Việt Nam cho hay.

 Dược sĩ Trần Thị Đào, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Dược phẩm Imexpharm cũng chia sẻ: “Trong Thông tư 01 có một số điểm mới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp dược Việt Nam khi tham gia đấu thầu, đó là các doanh nghiệp trong nước có những sản phẩm Generic sẽ tách riêng một nhóm, tức là 100% doanh nghiệp đạt GMP- WHO trong nước đều có thể tham gia thấu thầu. Tuy nhiên, điều mà chúng tôi lo lắng là nếu chỉ chọn một sản phẩm có giá rẻ nhất thì liệu một doanh nghiệp đó có thể cung ứng nổi cho cả khu vực, thậm chí cả nước được không. Và những doanh nghiệp còn lại sẽ hoạt động sản xuất và kinh doanh như thế nào…”.

 Vậy nên, bà Đào cho rằng Thông tư hướng dẫn Hồ sơ mời thầu mà Bộ Y tế sắp ban hành cần có thêm nhiều tiêu chí để các doanh nghiệp dược có thêm cơ hội, tạo điều kiện cho những doanh nghiệp có năng lực, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn và có đầu tư chiều sâu vào chất lượng sản phẩm đồng thời phù hợp với thực trạng công nghiệp dược Việt Nam (sản xuất trùng lặp, nhà nhà cùng sản xuất kháng sinh, vitamin…).

 Tạo cơ chế để đưa thuốc nội vào bệnh viện

 “Để thực hiện cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, các cơ quan, đơn vị và tổ chức chính trị – xã hội khi thực hiện mua sắm công đều phải chú ý sử dụng hàng hóa Việt Nam sản xuất. Thiết nghĩ mặt hàng thuốc sản xuất trong nước cũng cần phải được ưu tiên sử dụng trong hệ thống công lập, nghĩa là cần tạo cơ chế chính sách để đưa thuốc nội vào sử dụng rộng rãi hơn trong hệ thống các bệnh viện. Thậm chí cũng cần phải tính đến việc thay đổi phương thức đấu thầu đối với thuốc nội”, PGS.TS Phạm Khánh Phong Lan khẳng định.

 Theo PGS.TS Phong Lan, thay bằng việc tổ chức đấu thầu, Bộ Y tế hoàn toàn có thể đưa ra các tiêu chí và thương thảo với các doanh nghiệp dược trong nước về việc sản xuất những mặt hàng thuốc (sử dụng nhiều và được bảo hiểm y tế chi trả) rồi cung cấp chung cho toàn bộ hệ thống điều trị. Như vậy sẽ tiết kiệm được ngân sách, đồng thời tránh được tình trạng mỗi sở y tế, mỗi bệnh viện tổ chức đấu thầu thuốc thì đưa ra những tiêu chí khác nhau và giá cả chênh lệch mỗi nơi mỗi giá…

 “Ngành y tế cần phải quy định một tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước tăng dần theo các năm trong kế hoạch đấu thầu của các cơ sở khám chữa bệnh. Đồng thời có chính sách cụ thể đối với hệ thống khám chữa bệnh để tăng cường kê đơn và sử dụng thuốc Việt như: Quy định cụ thể tỷ lệ sử dụng thuốc Việt cho từng tuyến khám chữa bệnh. Kiện toàn hội đồng thuốc điều trị, nâng cao nhận thức của bác sỹ trong việc kê đơn sử dụng thuốc Việt, xử lý nghiêm những trường hợp tham nhũng trong việc đấu thầu thuốc hay nhận hoa hồng…”, ông Nguyễn Văn Tựu, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dược Việt Nam, đề xuất.

Theo NAMUD – Phương Liên

About Nhóc Dược sĩ

Thông tin Dược ● Y học thường thức ● Tài nguyên học tập

Thảo luận

Chưa có phản hồi.

Bình luận

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Nhóc Dược sĩ

Nhập địa chỉ email của bạn để đăng ký để theo dõi và nhận thông báo các bài viết mới qua email.

Nhóc Dược sĩ Fanpage

Lịch cập nhật bài viết

Tháng Chín 2012
M T W T F S S
« Aug   Jan »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Biên tập viên

Đã truy cập

  • 164,421 lượt
%d bloggers like this: